Nghiên cứu một số độc tính của cao lỏng Desugan trên thực nghiệm

Nguyễn Thị Minh Thu , Ngô Thị Khánh Huyền, Trịnh Thị Hà, Phạm Thị Vân Anh, Phạm Mạnh Hùng

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Nghiên cứu nhằm đánh giá độc tính cấp đường uống trên chuột nhắt trắng và độc tính bán trường diễn trên chuột cống trắng của cao lỏng Desugan. Các thử nghiệm được tiến hành theo hướng dẫn của Bộ Y tế và OECD. Kết quả thử độc tính cấp cho thấy, với liều cao nhất đã thử nghiệm, 172,8 g dược liệu khô/kg, không có chuột nào chết sau 7 ngày theo dõi. Các chuột vẫn khỏe mạnh, ăn uống, hoạt động, đại tiểu tiện, thần kinh và hô hấp bình thường. Trọng lượng ngày 7 tăng có ý nghĩa thống kê so với ngày 0 (p < 0,001). Quan sát đại thể các cơ quan tim, gan, thận, phổi, bàng quang và ruột thấy bình thường. Ở thí nghiệm thứ hai, trên chuột cống trắng uống Desugan liều 3,402 hoặc 10,206 g/kg/ngày × 30 ngày liên tiếp, các chỉ số sinh hóa và huyết học của chuột ở ngày 15 và 30 thay đổi không có ý nghĩa thống kê so với N0 (p > 0,05). Ngoài ra, quan sát đại thể mô gan và thận chuột ở tất cả các lô thấy bình thường. Tuy nhiên, 1/3 số chuột (33,33%) ở lô uống Desugan liều 3,402 hoặc 10,206 g/kg/ngày có 2 – 3 tế bào gan bị xơ hóa và thoái hóa hạt rất nhẹ, khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê với lô chứng, trong khi 2/3 chuột còn lại (66,67%) có mô gan bình thường. Chỉ 1/3 chuột ở lô uống Desugan liều 10,206 g/kg/ngày có sung huyết ống thận và mạch máu quanh ống thận trong khi 2/3 chuột còn lại của lô này và tất cả chuột (3/3, 100%) ở lô uống Desugan liều 3,402 g/kg/ngày đều có mô thận bình thường. Cao lỏng Desugan không ảnh hưởng đến thể trạng, chức năng tạo máu, chỉ số sinh hóa của chuột cống trắng. Cần thêm nghiên cứu để kết luận về ảnh hưởng của Desugan đến mô học gan và thận chuột.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Y tế (2017), Dược điển Việt Nam V, Nhà xuất bản Y học.
2. N. Chiranthanut, S. Teekachunhatean, A. Panthong, P. Khonsung, D. Kanjanapothi, N. Lertprasertsuk (2013). Toxicity evaluation of standardized extract of Gynostemma pentaphyllum Makino. Journal of Ethnopharmacology. Volume 149, Issue 1. 26 August 2013, pp. 228-234.
3. A.A. Momtazi-Borojeni, S.A. Esmaeili, E. Abdollahi, A. Sahebkar (2017). A review on the pharmacology and toxicology of steviol glycosides extracted from Stevia rebaudiana. Current pharmaceutical design, 23(11), 1616-1622.
4. R. O. Raji, H. L. Muhammad, A. Abubakar, S. S. Maikai, H. F. Raji (2021). Acute and sub-acute toxicity profile of crude extract and fractions of Gymnema sylvestre. Clinical Phytoscience (2021) 7:56, https://doi.org/10.1186/s40816-021-00290-4.
5. S. Thanabhorn, K. Jaijoy, S. Thamaree, K. Ingkaninan, A. Panthong (2006). Acute and subacute toxicity study of the ethanol extract from Lonicera japonica Thunb. Journal of ethnopharmacology 107.3, 370 - 373.
6. Bộ Y tế (2015), Quyết định số 141/QĐ-K2ĐT, Quyết định về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn thử nghiệm tiền lâm sàng và lâm sàng thuốc đông y, thuốc từ dược liệu”.
7. Đỗ Trung Đàm (2014), Phương pháp xác định độc tính của thuốc, Nhà xuất bản Y học.
8. OECD (2008), Test No. 407: Repeated Dose 28-day Oral Toxicity Study in Rodents, OECD guidelines for the testing of chemicals.
9. Đỗ Trung Phấn (2022). Kỹ thuật xét nghiệm huyết học và truyền máu ứng dụng trong lâm sàng. Nhà xuất bản Y học.
10. Bộ Y tế (2014). Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Hóa sinh. Quyết định số 320/QĐ-BYT ngày 23 tháng 01 năm 2014.
11. Bộ Y tế (2016), Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành giải phẫu bệnh, tế bào học (Ban hành kèm theo Quyết định số 5199/
QĐ-BYT ngày 25 tháng 12 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế), Nhà xuất bản Y họ